Mâm đồng, Bát, Đĩa - hiện vật nuôi dưỡng cán bộ Đảng của gia đình ông Cao Văn Diện

Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930- 1931), gia đình ông Cao Văn Diện là cơ sở nuôi dưỡng, che dấu cán bộ đảng hoạt động bí mật. Họ Cao là một trong những dòng họ ở Hưng Nguyên có nhiều người tham gia phong trào cách mạng 1930- 1931 như: Cao Diện, Cao Bang, Cao Tính, Cao Sáu, Cao Viết, Cao Hưng…đều là đảng viên, (ông Cao Hưng hoạt động trong nhà máy Trường Thi Vinh- Bến Thủỷ). Cuối năm 1931, các ông đều bị địch bắt và bị kết án từ 1 năm đến 9 năm tù khổ sai.

Ông Cao Văn Diện sinh năm 1909, tại làng Hạ Khê, xã Hoàng Cải, tổng Hải Đô, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hưng Tây) một vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Từ nhỏ ông được gia đình cho theo học chữ nên sớm tiếp thu thơ văn yêu nước và tư tưởng tiến bộ. Năm 1929, có ông Vương Thúc Đàm- quê Kim Liên- Nam Đàn đến dạy học và bắt mạch, bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân ở xã Hoàng Cải, thường qua lại và ăn ở trong nhà ông Cao Diện. Hàng ngày ông Vương Thúc Đàm hay trò chuyện với nhiều người, kể chuyện bọn Tây, bọn nhà giàu độc ác và thân phận người dân nô lệ cực khổ…Dần dần ông Cao Diện trở thành người học trò tin cậy của ông Vương Thúc Đàm. Từ đó hai thầy trò đã gây dựng phong trào học chữ quốc ngữ, thông qua các lớp học, các nhóm học sinh để truyền bá các sách báo, thơ ca tiến bộ, nhằm khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù đế quốc, phong kiến trong các tầng lớp nhân dân.

Trong lúc tổ chức Tân Việt và Thanh niên phát triển và hoạt động mạnh ở Nghệ An, việc bắt liên lạc xây dựng cơ sở đảng ở Hưng Nguyên lúc đó không tập trung vào một đầu mối mà có 3 cấp Bộ trực tiếp phụ trách địa bàn Hưng Nguyên:
Vùng tổng Phù Long, Thông Lạng, Nam Kim và Tràng Cát (Nam Đàn) do Xứ ủy Trung Kỳ trực tiếp phụ trách.
Vùng tổng Yên Trường, Đô Yên, Văn Viên do tỉnh bộ Vinh- Bến Thủy trực tiếp phụ trách.
Vùng Tổng Hải Đô và xã Dương Xá (nay thuộc Hưng Lĩnh) do Huyện bộ Nam Đàn phụ trách.

Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngay sau đó Xứ ủy Trung Kỳ đã cử đồng chí Tôn Gia Tinh về Hưng Nguyên, bắt liên lạc với đồng chí Lê Xuân Đào (tức Lê Mạnh Thân), thành lập ra Chi bộ Cộng sản, gọi là Trúc- Lam - Giang. Cùng thời gian này, Xứ ủy Trung Kỳ, cử đồng chí Ngô Văn Sở về liên lạc với Bùi Hải Thiệu (Nam Cường) thành lập ra chi bộ ghép Phù Long - Nam Kim, gọi là chi bộ Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ, phụ trách 5 tổng của Hưng Nguyên và Nam Kim (Nam Đàn). Chi bộ Trúc – Lam - Giang và Chi bộ Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ có vai trò như một Phân ủy làm nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, kết nạp đảng viên mới và chỉ đạo phong trào cách mạng. Thời gian này có các đồng chí Vương Thúc Đàm, Vương Thúc nghiêm, Lê Xuân Đào, Bùi Hải Thiệu đã ở trong nhà ông Cao Diện mỗi khi về vùng Hải Đô hoạt động. Ông Cao Diện được các đồng chí giác ngộ cách mạng và kết nạp vào Đảng cộng sản. Ông được giao nhiệm vụ đi tuyên tuyền, vận động nhân dân tham gia các tổ chức quần chúng. Ban đầu ông Cao Diện vận động anh em trong họ. Sau đó các ông Cao Diện, cao Bang, Cao Tính…phân công nhau di vận động bà con trong làng xã.

Tháng 7/1930, Chi bộ Hạ Khê, tổng Hải Đô được thành lập, gồm có các đồng chí Phạm Đình Tiến, Cao Diện, Cao Bang, Trần Xứng, Trần Văn Du, Phạm Xuân, Thâm…do đồng chí Phạm Đình Tiến làm Bí thư Chi bộ. Các đảng viên phân công nhau đi gây dựng, phát triển các tổ chức quần chúng như: Nông hội đỏ, Thanh niên Cộng sản đoàn, Cứu tế đỏ, Phụ nữ giải phóng, Hội tán trợ…Ông Cao Diện được phân công phụ trách Nông hội đỏ. Chi bộ Hạ khê đã tổ chức rải truyền đơn, treo cờ búa liềm, mít tinh nghe diễn thuyết, đấu tranh đòi hào lý trả lại ruộng đất công, tiền phù thu lãm bố…

Sau khi Chi bộ Hạ Khê ra đời, nhà ông Cao Diện là nơi hội họp bí mật. Mỗi khi có cán bộ về hội họp, ăn nghỉ tại nhà, cha mẹ và vợ ông làm nhiệm vụ canh gác, phục vụ cơm nước. Chiếc mâm đồng, bát sứ, đĩa sứ...là những vật dụng của gia đình dùng dọn cơm ăn, nước uống hàng ngày cho các đồng chí: Ngô Văn Sở- cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ, Vương Thúc Đàm, Vương Thúc Nghiêm, Bùi Hải Thiệu- cán bộ Huyện ủy Nam Đàn…

Ngày 30/8/1930, dưới sự chỉ đạo của Chi bộ Đảng, ông Cao Diện đã tập trung nhân dân làng Hạ Khê, Nam Cường, Nam Giang (Nam Đàn) nhập vào đoàn biểu tình hàng ngàn người kéo lên thị trấn Sa Nam, bao vây huyện đường Nam Đàn, buộc tri huyện Lê Khắc Tưởng phải ký vào lá cờ có ghi yêu sách với lời cam kết không dám nhũng nhiễu nhân dân…

Tháng 9/1930, Phân ủy quyết định tổ chức một cuộc biểu tình lớn toàn huyện vào ngày 12/9/1930. Nhận được chỉ thị, Chi bộ Hạ Khê đã triệu tập cuộc họp bàn kế hoạch vận động quần chúng khẩn trương tiến hành công việc: may băng cờ, in truyền đơn, khẩu hiệu, trang bị thêm giáo mác, gậy gộc, chuẩn bị lương thực…

Sáng sớm ngày 12/9/1930, nông dân làng Hạ Khê, Khoa Đà, Phúc Long, Phúc Điền, Thượng Khê, Hoàng Cải…tổng Hải Đô, mang theo gậy gộc, cờ đỏ búa liềm tập kết cùng với nông dân các làng trong huyện vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu đòi quyền lợi, đoàn biểu tình tiến về Phủ lỵ Hưng Nguyên. Trên đường đi Bà Nguyễn Thị Phia đã diễn thuyết vạch trần tội ác của kẻ thù. Số người tham gia ngày một đông, khi tới Thái Lão, địch cho máy bay ném bom xuống đoàn biểu tình hai lần làm 217 người chết, 125 người bị thương.Phong trào đấu tranh của quần chúng làm cho bộ máy chính quyền địch ở các thôn xóm hoang mang. Chi bộ Hạ Khê nắm lấy thời cơ, chỉ đạo Nông hội đỏ, Tự vệ đỏ, Cứu tế đỏ, Đồng tử quân…,tổ chức tịch thu lúa, tiền của nhà giàu chia cho dân nghèo, học chữ Quốc ngữ, đắp đập đào mương, miễn giảm các thứ thuế, bài trừ hủ tục, thực hiện nếp sống mới…

Tháng 9/1931, làn sóng khủng bố trắng của địch đã lan đến Hạ Khê, ông Cao Diện cùng nhiều cán bộ, đảng viên bị địch bắt đưa về giam ở phủ Hưng Nguyên, kết án 1 năm tù giam. Mặc dù bị kẻ địch tra tấn rất dã man, ông vẫn kiên quyết không khai. Cuối năm 1932, ông được trả tự do. Về nhà, ông tìm cách bắt mối liên lạc với tổ chức đảng để hoạt động, ông tham gia công tác xã hội tại địa phương cho đến năm 1955, ông bị bệnh và qua đời.

Ông luôn là tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Những hiện vật trên đã được gia đình cất giữ làm kỷ vật nhằm giáo dục truyền thống cách mạng của gia đình và quê hương, Nay con trai ông là Cao Văn Hiến gửi lại cho Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh lưu giữ.

                                                                                         Võ Thị Hoa - Bảo tàng XVNT