Thứ hai - 18/12/2017  
NỘI DUNG
Giới thiệu
Tin tức - Sự kiện
Hệ thống trưng bày
Hệ thống di tích
Nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiệp vụ khác
Hồ sơ chiến sỹ cách mạng
Nhân vật Xô Viết Nghệ Tĩnh
Thư viện, hồ sơ hiện vật
Cảm tưởng và trao đổi
Liên kết Website
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1964
Đài tưởng niệm các Chiến sỹ Xô Viết đã hy sinh trong cuộc đấu tranh ngày 7-11-1930 tại ngã ba Nghèn, Can Lộc, Hà Tĩnh
Đài tưởng niệm các chiến sỹ yêu nước và cách mạng bị giam cầm tại nhà lao Vinh
THÔNG TIN WEBSITE
Lượt truy cập : 3355170
Hôm nay : 209
Nhân vật Xô Viết Nghệ Tĩnh
Đại tướng Chu Huy Mân (1913-2013)

Đại tướng Chu Huy Mân (tên khai sinh là Chu Văn Điều) sinh ngày 17/3/1913, trong một gia đình nông dân nghèo có 8 người con tại xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An). Sinh ra trong một gia đình, dòng họ có truyền thống yêu nước; lớn lên trên mảnh đất có bề giày lịch sử, văn hóa đã góp phần hun đúc nên tinh thần, nghị lực và bản lĩnh kiên cường của người chiến sỹ cách mạng – Đại tướng Chu Huy Mân.

Ông tham gia cách mạng năm 1929, vào Đảng năm 1930. Trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, ông tham gia đội Tự vệ đỏ và là đội phó đội tự vệ xã, sau đó làm Bí thư chi bộ xã (năm 1933), Bí thư phân Huyện ủy huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (năm 1936).

Tháng 5 năm 1935, ông đổi tên là Chu Huy Mân.

Từ 1937 - 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam nhiều lần ở Nhà laoVinh. Năm 1940, ông bị đưa đi giam ở Đắc Lay rồi Đắc Tô, Kon Tum. Trong nhà lao, bọn địch dùng đủ mọi thủ đoạn vừa dụ dỗ vừa đánh đập dã man nhưng không thể nào khuất phục được ý chí sắt thép của người chiến sĩ cộng sản.

Năm 1943, ông vượt ngục thành công, sau một thời gian bắt liên lạc được với tổ chức Đảng tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian ở Quảng Nam, đ/c Chu Huy Mân tham gia tích cực trong Ban Mặt trận Việt Minh tỉnh và được phân công làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Nam. Tháng 8/1945, đ/c Chu Huy Mân cùng với các đ/c nòng cốt trong Mặt trận Việt Minh tỉnh và BCH Tỉnh uỷ Quảng Nam lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Sau khi giành được chính quyền năm 1945, ông vào quân đội và lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam; sau đó làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính 4 tỉnh Trung Bộ, Trưởng ban Kiểm tra Đảng, Quân khu ủy viên Khu Việt Bắc.

Từ năm 1947 đến năm 1949, ông là Trung đoàn trưởng, Bí thư Trung đoàn ủy các Trung đoàn 72, Trung đoàn 74 Cao Bằng và Trung đoàn 174 Cao - Bắc - Lạng. Đ/c Chu Huy Mân được giao nhiệm vụ làm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Chu Huy Mân, trung đoàn 174 đã tổ chức ra quân đánh phục kích lớn trên đường số 4 làm tê liệt, cắt đứt con đường vận chuyển chiến lược của địch từ xuôi lên Việt bắc, tiêu diệt gần 500 tên địch, bắt sống 60 tên, làm bị thương 300 tên, phá huỷ 53 xe tăng. Ngày 30/1/1950, đồng chí Chu Huy Mân lại chỉ huy Trung đoàn 174 tổ chức đánh trận lớn tiêu diệt gần 5000 tàn quân Tưởng, bắt đầu hàng khoảng 4000 tên.

Tháng 8/1950, Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định mở chiến dịch Biên giới. Các lực lượng tham gia chiến dịch bao gồm Trung đoàn 174 của đồng chí Chu Huy Mân, đại đoàn 308, các tiểu đoàn 209, 426, 428, 888 và một số bộ đội địa phương tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn cùng 10 vạn dân công. Sau chiến dịch Biên giới thắng lợi, trung đoàn 174 về đóng quân gần thị xã Lạng Sơn. Đồng chí Chính uỷ Chu Huy Mân nhận được lệnh lên cơ quan Bộ để nhận nhiệm vụ mới. Khi đến cơ quan Bộ đóng ở Hòa An, Cao Bằng, đồng chí Chu Huy Mân đã đến làm việc và báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi nắm rõ tình hình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bảo với đ/c Chu Huy Mân cùng sang gặp Bác. Đó là lần đầu tiên Đại tướng Chu Huy Mân được gặp trực tiếp Bác Hồ…

Tháng 5/1951, đại đoàn 316 được thành lập. Đồng chí Chu Huy Mân được cử làm phó chính uỷ, sau đó là Chính uỷ, Bí thư đảng uỷ đại đoàn 316. Đại đoàn 316 do đồng chí Chu Huy Mân chỉ huy, với niềm kiêu hãnh chiến công của Trung đoàn 174 làm trụ cột trong chiến dịch Biên giới đã tự tin, hùng dũng tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và được giao nhiệm vụ đánh những vị trí then chốt như đồi C1, C2 và đồi A1, góp phần quyết định đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, làm nên chiến thắng chấn động địa cầu.

Tháng 8/1954, đồng chí Chu Huy Mân được Đảng và Nhà nước cử làm trưởng đoàn và Bí thư Đảng uỷ Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào. Trong gần 4 năm làm việc tại Lào, đồng chí đã cùng đoàn chuyên gia giúp nước bạn Lào xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng, tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng Lào phát triển theo kịp phong trào 3 nước Đông Dương…

Năm 1957, ông giữ chức Chính ủy Quân khu IV; năm 1958, là Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Khu ủy Tây Bắc.
Tháng 5/1961, đồng chí giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu IV.

Năm 1964, đồng chí Chu Huy Mân vào chiến trường khu V, lần lượt giữ các chức vụ Phó Bí thư Khu uỷ, Bí thư khu uỷ Quân khu V. Đó là những năm tháng rất ác liệt, bằng tài năng và trí tuệ của mình, với quyết tâm cao, đồng chí Chu Huy Mân cùng tập thể lãnh đạo Khu uỷ chỉ huy quân và dân làm nên nhiều chiến công giòn giã như trận Ba Gia, Núi Thành, Vạn Tường.

Tháng 7/1976, đồng chí Chu Huy Mân làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ - Bí thư Đảng uỷ Mặt trận Tây Nguyên. Chiến thắng Plâyme do Tướng Chu Huy Mân chỉ huy đã đi vào lịch sử như một mốc son của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tháng 8-1965, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B3 - Tây Nguyên.

Trong hơn 10 năm chỉ huy bộ đội Quân khu 5 từ năm 1964 cho đến Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, đồng chí Chu Huy Mân là chỗ dựa tin cậy của quân và dân khu 5 trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất nhưng cũng vẻ vang nhất. Trong thời gian công tác ở Quân khu 5, đồng chí Chu Huy Mân được mọi người gọi với cái tên thân thương là anh “Hai Mạnh”.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Trưởng ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1977-1986), phụ trách công tác giúp Cách mạng Lào, Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc (năm 1980).

Ông là Đại biểu Quốc hội khóa II, VI, VII, được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa VII (1981-1986), là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, IV, V, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IV, V.

Với những thành tích đã đạt được qua hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đồng chí Chu Huy Mân được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958, vượt cấp lên Thượng tướng năm 1974, được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong hàm Đại tướng năm 1980.

Hơn 75 năm đứng trong hàng ngũ của đảng, hơn 50 năm hoạt động trong Nhà nước và trong quân đội, Đại tướng Chu Huy Mân đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ và cương vị quan trọng trên lĩnh vực quân sự cũng như dân sự. Nhiệm vụ nào, cương vị nào Đại tướng cũng hoàn thành xuất sắc, được Đảng, Nhà nước và quân dân tin yêu, cảm phục. Với công lao to lớn đó, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Đại tướng: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất và nhiều huân chương cao quý khác. Đặc biệt ông là một trong số ít những vị Đại tướng được tặng huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Đại tướng nghỉ hưu tháng 12 năm 1986. Ông mất ngày 1 tháng 7 năm 2006 tại Hà Nội trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình và quê hương cùng nhân dân cả nước…

                                                                                                                                            Trần Thị Hồng Nhung - Bảo tàng XVNT


»  Hồ Mỹ Xuyên (1920 – 1948)
»  Nguyễn Thị Nhã (1911- 1992)
»  Nguyễn Thị Quang Thái (1915-1944)
»  Nguyễn Đình Sòng ( 1911-1954)
»  Đồng chí Nguyễn Côn
»  Đồng chí Nguyễn Thế Lâm ( 1904-1978)
»  Nguyễn Xuân Linh (1909-1988)
»  Nguyễn Sỹ Quế ( 1913 - 1995 )
»  Nguyễn Trương Khoát (1913-2008)
»  Phan Hữu Khiêm (1905 – 1984)
»  Nguyễn Xuân Thành (1912 – 2005)
»  Ngô Minh Loan (1915 - 2001)
»  Võ Thúc Đồng (1914-2007)
»  Nguyễn Phúc ( 1904 - 1987)
»  Trần Hữu Quán ( 1909 - 1989 )
»  Nguyễn Đức Mậu (1905-1932)
»  Nguyễn Thị Nhuận (1910 – 2006)
»  Đồng chí Chu Văn Biên (1912-2006)
»  Võ Trọng Cánh (1887-1931)
»  Nguyễn Tất Thắng (1912-2004)
»  Nguyễn Hữu Bình (1900-1972)
»  Đồng chí Nguyễn Văn Thân (1912-1952)
»  Đồng chí Nguyễn Kiệm (1916-1951)
»  Hoàng Trần Thâm (1909 - 1931)
»  Hoàng Trần Siêu (1870 - 1949)
»  Nguyễn Thị Thiu (1907- 1992)
»  Bùi Khắc Thựu (1914- 1941)
»  HỒ THỊ NHUNG ( 1909- 1990 )
»  Trần Đình San (1907-1974)
»  Vi Văn Khang (1900 – 1978)
»  Nguyễn Thị Phúc ( 1911 – 1941)
»  Đồng chí Trần Cảnh Bình
»  Nguyễn Thị Duệ ( 1910- 1952 ) Bí danh: Vỵ, Thanh, Sửu
»  Nguyễn Ngô Dật (1890- 1932) . Bí danh Đầu Xứ Dật, Thuỷ
»  Trần Thị Liên(1910- 1991) Bí danh: Sơn, Tuyết
»  Phan Thái Ất (1894-1967)
»  Đặng Chánh Kỷ (1890 - 1931)
»  Hoàng Văn Tâm (1910-1932)
»  Nguyễn Thị Nình (1901-1944)
»  Tôn Gia Chung( 1909-1979)
»  Đặng Thai Mai(1902-1984)
»  Nguyễn Viết Lục (1907-1935) Bí danh: Trần Văn Nghệ, Trạch
»  Hoàng Trọng Trì(1887-1938) Bí danh: Minh
»  Nguyễn Đình Liễn(1898- 1931)
»  Phạm Thị Dung (1910-1930)
»  Hà Sâm (1909- 1990) Bí danh: Bằng
»  Đặng Thái Thuyến (1900-1931)
»  Lê Bá Cảnh(1911-1941)
»  Lê Doãn Sửu(1901-1943)
»  Chu Huệ (1903-1956)
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký "Lời tựa" cho Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1964
Chủ tịch Trường Chinh trồng cây lưu niệm tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1985
Toạ đàm khoa học về nhà lao Vinh
Mô hình một góc Nhà lao Vinh
 

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BẢO TÀNG XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH

Cơ quan chủ quản: Sở Văn hóa và Thể thao Nghệ An
Đơn vị quản lý: Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Chịu trách nhiệm: Ông Cao Văn Xích - Giám đốc Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Địa chỉ: số 10, đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Điện thoại: (02383) 580 028 / Email: website @ btxvnt . org . vn
Thiết kế: Trung tâm Công nghệ thông tin Nghệ An