Chủ nhật - 20/08/2017  
NỘI DUNG
Giới thiệu
Tin tức - Sự kiện
Hệ thống trưng bày
Hệ thống di tích
Nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiệp vụ khác
Hồ sơ chiến sỹ cách mạng
Nhân vật Xô Viết Nghệ Tĩnh
Thư viện, hồ sơ hiện vật
Cảm tưởng và trao đổi
Liên kết Website
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1964
Đài tưởng niệm các Chiến sỹ Xô Viết đã hy sinh trong cuộc đấu tranh ngày 7-11-1930 tại ngã ba Nghèn, Can Lộc, Hà Tĩnh
Đài tưởng niệm các chiến sỹ yêu nước và cách mạng bị giam cầm tại nhà lao Vinh
THÔNG TIN WEBSITE
Lượt truy cập : 3294781
Hôm nay : 76
Nhân vật Xô Viết Nghệ Tĩnh
Đặng Thai Mai(1902-1984)

Đặng Thai Mai (bút hiệu Thanh Tuyền) sinh ngày 25/12/1902 tại làng Lương Điền, tổng Bích Triều (nay là xã Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. 

Lương Điền, Thanh Chương là một miền quê nghèo khổ nhưng lại rất thơ mộng bởi sự giao hoà của dòng sông Lam, dãy Thiên Nhẫn có ngọn Thái Sơn, thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế- văn hoá. Lưong Điền, Thanh Chương là địa phương có truyền thống văn hoá yêu nước và cách mạng. Qua các thời kỳ lịch sử, nơi này đã xuất hiện nhiều người học rộng tài cao, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn và có nhữung đóng góp xuất sắc cho sự tồn tại, phát triển của quê hương đất nước. 

Ông nội của Đặng Thai Mai là cụ Đặng Thai Hài(có tài liệu ghi tên khác là Đặng Thài Giai) thi đỗ cử nhân năm Tự Đức thứ 31(1878) được bổ làm Huấn đạo Quảng Trị, rồi làm tri huyện ở tỉnh Thah Hoá. Sau khi thực dân Pháp chiếm Thanh Hoá, cụ xin từ quan rồi tham gia phong trào yêu nước và dạy học tại quê nhà. 

Thân sinh của Đặng Thai Mai là Đặng Thai Sơn (Đặng Nguyên Cẩn) thi đỗ cử nhân khoa Mậu Tý, đậu Phó bảng khoa Ất Mùi(1895) và được bổ làm Trước tác ở Quốc sử quán triều Nguyễn, Giáo thụ phủ Hưng Yên, Nghệ An, Đốc học tỉnh Hà Tĩnh, Đốc học tỉnh Bình Thuận. Tuy là quan nhưng ông vẫn hăng hái tham gia phong trào Đông Du, Duy Tân thuộc nhóm “Minh xã” ở Nghệ An, nên bị thực dân Pháp và phong kiến Nam triều phạt tù 13 năm đày đi Côn Đảo. 

Chú ruột của Đặng Thai Mai là Đặng Thúc Hứa (hiệu Ngọ Sinh) đỗ tú tài Hán học nên thường gọi là Tú Ngọ Sinh hay Tú Hứa. Ông xuất dươngsang Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan tổ chức các hoạt động yêu nước. Từ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào xuất dương tìm đường cứu nước phát triển mạnh mẽ ở Nghệ An. Sau khi con đường Đông Du sang Nhật bị thất bại, các nhà yêu nước chuyển hướng hoạt động sang Xiêm, từ đó qua Trung Hoa tìm đường cứu nước. Và, Người có công lớn trong việc lập Trại Cày ở Xiêm để đón nhận thanh niên Việt Nam xuất dương là Đặng Thúc Hứa. Khoảng giữa năm 1930, tại Bản Đông, huyện Phì- chịt tỉnh Pi- na- xu - lốc, Vương quốc Xiêm, Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam đầu tiên của Việt kiều được thành lập trong đó có đồng chí Đặng Thúc Hứa- người đảng viên cộng sản đầu tiên của Đảng ta, khi đã bước vào tuổi 60. 

Chú ba của Đặng Thai Mai là Đặng Thái Xương(tục gọi là chú Ba Hối), tuy ssống ở quê nhà những là một yếu nhân của Việt nam Quang phục hội vùng Thanh Cương, bị địch bắt đày đi Lao Bảo. 

Bà Đặng Qùnh Anh đã cùng với anh ruột là Đặng Thúc Hứa sang Xiêm lập Trại Cày, tổ chức các hoạt động yêu nước. Năm 1934 bà được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, hoạt động ở Xiêm. 

Sinh ra và lớn lên ở một miền quê giàu truyền thống, một đại gia đình khoa bảng, tận mắt chứng kiến cảnh kẻ thù bắt bới giam cầm người thân trong gia đình, quê hương, cũng như sự khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh do các sỹ phu lãnh đạo, đã sớm khơi dậy trong Đặng Thai Mai tinh thần yêu nước, yêu quê hương và lòng căm thù giặc. Sự thiếu vắng của cha mẹ từ nhỏ lại luôn nơm nớp lo âu vì bọn thực dân phong kiến liệt vào hàng “Cừu gia, tử đệ”, thường xuyên bị theo dõi nòm ngó, nhưung nhờ có bà nội, một phụ nữ nông thôn giàu nghị lực và vốn liếng văn hoá dân gian bù đắp, dạy dỗ chu đáo Đặng Thai Mai ngay từ thuở thiếu thời. Với “Lớp học tại gia” và thư viện gia đình - “Lam Thái Sơn phòng tùng thư”, đã góp phần quan trọng để Đặng Thai Mai tích luỹ kiến thức ban đầu. Nơi đây Đặng Thai Mai được học tập với nhiều thầy có kiến thức, có nhân cách và có tư tưởng tiến bộ. Trong những người thầy đó có cử nhân Hồ Phi Thống( Hồ Phi Huyền) người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu. Thầy cử Hồ, ngoài học vấn Hán học uyên thâm còn có tầm hiểu biết nhiều lĩnh vực khác. Trước khi đến dạy “Lớp học tại gia”, thầy cử Hồ đã bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian vì hoạt động yêu nước. Bên cạnh sự dạy dỗ của gia đình và các thầy, Đặng Thai Mai còn đọc được nhiều loại sách kinh điển nho gia, Tứ thư ngũ kinh, thơ, truyện cổ, đồng thời có điều kiện tiếp xúc với sách báo tiến bộ đương thời. Đó là sách của Đông Kinh nghĩa thục và đặc biệt là “Tân thư” của Trung Quốc với những tư tưởng nổi tiếng Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng...giúp cho Đặng Thai Mai sớm hình thành tư tưởng tiến bộ. 

Lớn lên Đặng Thai Mai rời khỏi gia đình và quê hương, năm 1915 đến 1924 học trường tiểu học Pháp - Việt rồi trường Cao đẳng tiểu học Vinh sau đó trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (1925-1928). Thời gian học ở trường Cao đẳng đã đem đến những biến đổi rất lớn trong cuộc sống tinh thần của Đặng Thai Mai. Một mặt ông sống trong không khí sục sôi cách mạng bởi các phong trào đấu tranh do các tổ chức và cá nhân khởi xướng đã bùng lên trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức và thợ thuyền. Những tin tức về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, về những khoá huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng ở Quảng Châu, Trung Quốc, về sự ra đời tổ chức Việt Nam cách mạng Thanh niên, tổ chức “Cộng sản đoàn” và nhữung tác phẩm nổi tiếng của Người như “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925), và “Đường Kách mệnh” (1927)... Tất cả đã khơi dậy trong tư tưởng, tình cảm của Đặng Thai Mai khát vọng tìm đến một học thuyết mới mẻ, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, phá vỡ những bế tắc, mở lối thoát cho dân tộc Việt Nam. 

Mặt khác, đây là những năm Đặng Thai Mai được học tập một cách có hệ thống những kiến thức Đông – Tây, kim - cổ, đặc biệt là nhữung trào lưu tư tưởng phương Tây từ cổ đại Hy lạp qua Trung cổ, đến Phục Hưng, cách mạng Tư sản với phong trào Ánh sáng...đã đưa đến cho ông những tri thức mới, bổ sung vào hiểu biết của ông làm cho vốn kiến thức của ông vừa phong phú vừa đầy đặn để khi bước vào đời có điều kiện thực hiện những ước mơ và hoài bão lớn. 

Từ khi học ở Cao đẳng Sư phạm Đông Dương Hà Nội, ông đã tích cực tham gia phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh và gia nhập Đảng Tân Việt. Tốt nghiệp khoá học Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Đặng Thai Mai được bổ làm Giáo sự trường Quốc học Huế. Năm 1929, Đảng Tân Việt bị vỡ, ông bị kẻ thù kết án treo 1 năm. Sau đó ở Huế ông còn bị bắt và kết án 1 năm vì tội tham gia phong trào “Cứu tế Đỏ”. Ra tù năm 1932 ông trở ra Hà Nội dạy tại trường Gia Long, rồi sau đó cùng với Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp ...lập trường tư thục Thăng Long. Nơi đây Đặng Thai Mai gặp và làm việc với nhiều giáo sư nổi tiếng về sự uyên bác cũng như tinh thần yêu nước và cách mạng, những học sinh xuất sắc về học vấn và sâu nặng tinh thần dân tộc, thật sự là môi trường tốt để Đặng Thai Mai trưởng thành nhanh chóng cả về nhận thức, năng lực cũng như được bồi đắp thêm tình cảm cách mạng và hoài bão cống hiến sức lực cho cuộc đấu tranh cứu nước, cứu dân. 

Trong quá trình tích cực vận động thành lập Đảng ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập “Hội nghị hợp nhất” để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong “Hội nghị hợp nhất”, Người vạch rõ đường lối cách mạng của nước ta là trước làm cách mạng dân tộc dân chủ sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. 

Sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra bước ngoặt trong lịch sử cách mạng nước ta. Nhưng về phương diện cá nhân Đặng Thai Mai, sự ra đời của Đảng thực sự là ánh dương soi rọi làm biến đổi sâu sắc trong tư tưởng và tình cảm của ông để ông vững bước trên con đường cống hiến tâm lực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Năm 1936, Đặng Thai Mai tích cực tham gia phong trào Mặt trận BÌnh dân và có những đóng góp lớn. Rồi ông tham gia biên tập các báo tiếng Pháp và Đảng Cộng sản Đông Dương: Le travail, Envant, Ra semblement, Notre voix và báo tiếng Việt: Tin tức; cùng với Nguyễn Văn Tố, Vương Kiêm Toàn thành lập Hội truyền bá Quốc ngữ. 

Năm 1936, Đặng Thai Mai được Đảng Cộng sản Đông Dương giới thiệu ra ứng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, đồng thời vẫn tiếp tục dạy học ở trường Thăng Long, tham gia viết sách báo, cộng tác với các nhóm tiến bộ để hoạt động tuyên truyền trong quần chúng nhân dân về những tư tưởng văn hoá mới nhằm xây dựng một nền văn hoá cách mạng cho nước nhà. Vì thế mà trong thời gian trước Cách mạng tháng Tám, Đặng Thai Mai đã nghiên cứu kỹ “Đề cương Văn hoá” của Đảng Cộng sản Đông Dương, viết cuốn “Văn hoá học khái luận” (1944), dịch Lỗ Tấn(in 1944)... 

Cách mạng tháng Tám thành công, trước những yêu cầu của cách mạng, Đặng Thai Mai đã đảm trách các cương vị: Đại biểu Quốc hội khoá I, Uỷ viên ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, với công việc rất quan trọng là tập trung chỉ đạo tốt việc thực hiện chủ trương diệt giặc dốt, xây dựng chương trình giảng dạy, định hướng cho nền giáo dục mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những năm tiếp theo, Đặng Thai Mai được phân công vào những nhiệm vụ mà phần lớn mang tính chất khai phá như: Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh Thanh Hoá, Chủ trì tạp chí Sáng tạo của văn nghệ sĩ Liên khu IV(1947-1948), Giám đốc trường Đại học văn khoa Liên khu IV(1950), Giám đốc Sở giáo dục Liên khu IV(1950-1951), Giám đốc trường Dự bị đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV(1952). 

Hoà bình lập lại, năm 1954, Đặng Thai Mai được giao nhiệm vụ: Chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Hiệu trưởng kiêm Chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường đại học Sư phạm Hà Nội; Viện trưởng Viện văn học; Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam; Chủ nhiệm lớp Đạo học Hán học... 

Trong cuộc đời hoạt động của Đặng Thai Mai thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945 với tư cách là nhà báo, ông đã thử nghiệm ngòi bút trên nhiều lĩnh vực. Khi văn nghệ sĩ đang lúng túng và đặt câu hỏi đi về đâu và làm gì thì Đặng Thai Mai đã có những đóng góp lớn trong việc giới thiệu và lý giải những khái niệm mới mẻ trong hệ thống lý luận Mác - xít, quan điểm cơ bản của Đảng về văn nghệ mà Đề cương Văn hoá đã nói rõ, nhằm đưa văn nghệ sĩ trở về với đại chúng, với đời sống cách mạng sôi động. 

Cách mạng tháng Tám thành công và sau đó cả dân tộc lại phải dốc toàn lực cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trường kỳ gian khổ. Đặng Thai Mai ngoài công việc quản lý, ông đã đi vào hai mảng vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống văn hoá và tinh thần của nhân dân. Bằng sự định hướng về lãnh đạo cũng như các bài viết ông đã giải quyết vấn đề lý luận giúp người sáng tác tháo gỡ những vướng mắc đề thông suốt đường lối van hoá văn nghệ của Đảng và nhà nước cách mạng, tích cực tham gia công cuộc “Kiến thiết văn hoá mới’; Đồng thời, Đặng Thai Mai đã có những đóng góp tích cực vào vệc tổng kết văn hoá Việt Nam quá khứ nhằm xác định điểm xuất phát, ý thức xây dựng nền văn hoá độc lập và mang bản sắc dân tộc sâu sắc. Những tác phẩm tiêu biểu của ông như: Chủ nghĩa nhân văn dưới thời Văn hoá Phục hưng(1949), giảng văn “Chinh phụ ngâm”(1950), Triết học khái luận, Lược sử văn hoá hiện đại Trung Quốc(1958), Văn thơ Phan Bội Châu(1958), Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX(1961).. 

Ngoài ra ông còn có những công trình nghiên cứu ngắn và vừa, nhưng cũng rất tâm huyết và được người đọc ưa tích như: Ngục trung nhật ký, Thơ văn Lý Trần, Nguyễn Trãi...Các công trình ấy của ông đều có những đóng góp quan trọng đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà. 

Với hơn 50 năm phục vụ đất nước, trong đó gần nửa thế kỷ là người cầm bút, cuộc đời và tác phẩm của Đặng Thai Mai luôn luôn gắn bó với công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng Tổ quốc Việt Nam. Là một trí thức yêu nước, một chiến sỹ cách mạng, Đặng Thai Mai luôn nhận trách nhiệm đi những bước đầu tiên và đã thu được những kết quả đáng trân trọng. Tuy nhiên còn nhiều điều mà Đặng Thai Mai nghiên cứu, gợi mở, đòi hỏ chúng ta tiếp tục nghiên cứu để những mong muốn của ông ngày một được bồi đắp hoàn thiện hơn, như chính Giáo sư Đặng Thai Mai từng nói: “Tôi sẽ không lấy làm mừng nếu kết quả nghiên cứu của mình đặt dấu chấm hết cho một vấn đề khoa học nào đó”. Cùng với những cống hiến trên nhiều lĩnh vực mà đặc biệt là lĩnh vực giáo dục, văn học nghệ thuật, quan điểm đúng đắn đó đã góp phần hoàn thiện hơn cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Đặng Thai Mai. 

Ông đã từ trần ngày 25/9/1984 tại Hà Nội, hưởng thọ 82 tuổi. Trong bài điếu văn do đồng chí Cù Huy Cận, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Liên hiệp Văn học- Nghệ thuật đọc trong buổi lễ tang Đặng Thai Mai đã viết: “Anh mất đi sau một cuộc đời trọn vẹn cống hiến cho cách mạng, cho nền văn nghệ của nước nhà, giữa lòng thương tiếc vô hạn của Đảng, của giới văn học nghệ thuật cả nước, của tất cả chúng ta, những bạn hữu, đồng chí, đồng nghiệp của anh mà anh đã từng gần gũi với một tấm lòng ưu ái được san sẻ đều như tình anh em, như tình bè bạn...Anh Mai của chúng ta đã sống một cuộc đời rất đúng và rất đẹp, một cuộc đời luôn luôn ý thức gắn bó với Đảng với nhân dân, một cuộc đời đầy đặn...” 

Do có công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đâ trao tặng Giáo sư Đặng Thai Mai những huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì và Huân chương Hồ Chí Minh 

                                                                                 Hoàng Minh Truyền. Ban NCLSĐ Nghệ An


»  Nguyễn Thị Nhuận (1910 – 2006)
»  Đồng chí Chu Văn Biên (1912-2006)
»  Võ Trọng Cánh (1887-1931)
»  Nguyễn Tất Thắng (1912-2004)
»  Nguyễn Hữu Bình (1900-1972)
»  Đồng chí Nguyễn Văn Thân (1912-1952)
»  Đồng chí Nguyễn Kiệm (1916-1951)
»  Hoàng Trần Thâm (1909 - 1931)
»  Hoàng Trần Siêu (1870 - 1949)
»  Đại tướng Chu Huy Mân (1913-2013)
»  Nguyễn Thị Thiu (1907- 1992)
»  Bùi Khắc Thựu (1914- 1941)
»  HỒ THỊ NHUNG ( 1909- 1990 )
»  Trần Đình San (1907-1974)
»  Vi Văn Khang (1900 – 1978)
»  Nguyễn Thị Phúc ( 1911 – 1941)
»  Đồng chí Trần Cảnh Bình
»  Nguyễn Thị Duệ ( 1910- 1952 ) Bí danh: Vỵ, Thanh, Sửu
»  Nguyễn Ngô Dật (1890- 1932) . Bí danh Đầu Xứ Dật, Thuỷ
»  Trần Thị Liên(1910- 1991) Bí danh: Sơn, Tuyết
»  Phan Thái Ất (1894-1967)
»  Đặng Chánh Kỷ (1890 - 1931)
»  Hoàng Văn Tâm (1910-1932)
»  Nguyễn Thị Nình (1901-1944)
»  Tôn Gia Chung( 1909-1979)
»  Nguyễn Viết Lục (1907-1935) Bí danh: Trần Văn Nghệ, Trạch
»  Hoàng Trọng Trì(1887-1938) Bí danh: Minh
»  Nguyễn Đình Liễn(1898- 1931)
»  Phạm Thị Dung (1910-1930)
»  Hà Sâm (1909- 1990) Bí danh: Bằng
»  Đặng Thái Thuyến (1900-1931)
»  Lê Bá Cảnh(1911-1941)
»  Lê Doãn Sửu(1901-1943)
»  Chu Huệ (1903-1956)
»  Ngô Tuân(1894-1982)
»  Nguyễn Duy Trinh(1910-1985)
»  Lê Thiết Hùng(1906-1986)
»  Trần Văn Cung (1909-1977)
»  Lê Cảnh Nhượng (1902-1933)
»  Trần Hữu Doánh (1906-1945)
»  Tôn Thị Quế (1902 – 1992)
»  Hồ Hảo (1911-1941)
»  Phan Đình Đồng ( 1911-2001)
»  Lê Nhu (1900-1985)
»  Lê Xuân Đào (1903-1932)
»  Nguyễn Nhật Tân tức Siêu Hải(1915-1939)
»  Danh nhân: Nguyễn Huy Lung (1908-1931)
»  Danh nhân: Lê Văn Huân (1876-1929)
»  Danh nhân: Đặng Thúc Hứa (1870-1931)
»  Danh nhân: Nguyễn Sỹ Sách (1907-1929)
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký "Lời tựa" cho Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1964
Chủ tịch Trường Chinh trồng cây lưu niệm tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1985
Toạ đàm khoa học về nhà lao Vinh
Mô hình một góc Nhà lao Vinh
 

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BẢO TÀNG XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH

Cơ quan chủ quản: Sở Văn hóa và Thể thao Nghệ An
Đơn vị quản lý: Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Chịu trách nhiệm: Ông Cao Văn Xích - Giám đốc Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Địa chỉ: số 10, đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Điện thoại: (02383) 580 028 / Email: website @ btxvnt . org . vn
Thiết kế: Trung tâm Công nghệ thông tin Nghệ An