Thứ ba - 26/09/2017  
NỘI DUNG
Giới thiệu
Tin tức - Sự kiện
Hệ thống trưng bày
Hệ thống di tích
Nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiệp vụ khác
Hồ sơ chiến sỹ cách mạng
Nhân vật Xô Viết Nghệ Tĩnh
Thư viện, hồ sơ hiện vật
Cảm tưởng và trao đổi
Liên kết Website
THÔNG TIN WEBSITE
Lượt truy cập : 3312479
Hôm nay : 50
Thư viện, hồ sơ hiện vật
Tráp gỗ- hiện vật đựng tài liệu Đảng của gia đình ông Nguyễn Lĩnh Quế.
BTXV: 09:47-03/05/2013

Ông Nguyễn Lĩnh Quế sinh năm 1903 ở làng Khoa Đà, xã Hương Cải, tổng Hải Đô, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hưng Tây). Từ nhỏ, ông được cha mẹ cho theo học chữ Quốc ngữ và 3 năm học chữ Hán, là người có tư chất thông minh, sớm có lòng yêu nước, lại được sự dìu dắt của ông Nguyễn Lĩnh Khôi hoạt đông trong tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội nên ông đã tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1929.

Tháng 3/1929, ông Vương Thúc Đàm- người Nam Đàn về làng Khoa Đà bắt mối liên lạc với ông Nguyễn Lĩnh Khôi để gây dựng phong trào. Hai ông đã giác ngộ cách mạng cho một số thanh niên tiên tiến trong làng, trong đó có ông Nguyễn Lĩnh Quế. Từ đó ông Lĩnh Quế đã tham gia tích cực công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng về ý thức cách mạng, tinh thần đấu tranh. Ông đã đi vận động được hàng trăm nông dân gia nhập vào các phường, hộị chống sưu cao, thuế nặng, đánh Tây Đoan, chống bọn hào lý nhũng lãm…

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, phong trào cách mạng trong tỉnh phát triển mạnh. Nhiều cuộc đấu tranh của nhân đân Hưng Nguyên gây tiếng vang lớn đã tác động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng ở làng Khoa Đà- Hương Cải.

Tháng 5/1930, đồng chí Ngô Dật (bí danh "Rộ Đen") cán bộ Tỉnh bộ Vinh về làng Khoa Đà thành lập Chi bộ Liên chi Đà Giang gồm các đồng chí: Nguyễn Lĩnh Khôi (bí danh là Lạc Long, Nho) và Nguyễn Đợi, Nguyễn Diệu, Đặng Xuân Phương, Nguyễn Đình Kỷ, Thúc Long, Nguyễn Tạo, Nguyễn Văn Vỹ (làng Anh Mỹ), Lê Huấn (làng Mỹ Hậu)…do đồng chí Nguyễn Lĩnh Khôi làm Bí thư. Chi bộ đã phân công các đồng chí đi tuyên truyền vận động nhân dân tham gia rải truyền đơn, mít tinh, treo cờ đỏ búa liềm… Thông qua các hoạt động phong trào quần chúng các đồng chí lựa chọn kết nạp vào tổ chức những người tiên tiến. Từ đó số lượng các đảng viên, quần chúng ngày một tăng. Sau một thời gian ông Nguyễn Lĩnh Quế được cử làm bí thư nông hội đỏ.

Tháng 9/1930, Phủ ủy Hưng Nguyên chủ trương tổ chức cuộc biểu tình vào ngày 12/9/1930, Chi bộ Đà Giang tổ chức họp bàn phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên, tổ chức in ấn tài liệu, tuyền đơn của đảng, móc nối với chi bộ Hạ khê, Thượng Khê (Xã Hương Cải), Trung Hậu, Mỹ Hậu, Yên Xá (xã Hưng Đông) và làng Hữu Biệt (xã Nam Giang). Thời gian này, Chi bộ đã chọn nhà ông Nguyễn Lĩnh Quế làm trụ sở ấn loát vì nhà ông và nhà ông Nguyễn Lĩnh Khôi là anh em, nhà lại ở vị trí giao thông đi lại khó khăn, sau nhà cây cối rậm rạp, trước nhà có sông, rất thuận lợi cho việc tiến lui khi cần thiết. Tổ ấn loát do ông Nguyễn Lĩnh Khôi trực tiếp phụ trách. Mẫu tài liệu, truyền đơn do cấp trên gửi về và tự xắp xếp cách in. Nội dung truyền đơn kêu gọi quần chúng nhân dân đoàn kết đấu tranh đánh đổ đế quốc thực dân Nam Triều, phong kiến, thành lập chính phủ công nông, đòi lợi quyền cho nhân dân... Ông Nguyễn Lĩnh Quế làm nhiệm vụ canh gác. Tổ ấn loát làm việc cả ngày, đêm. Vợ ông Nguyễn Lĩnh Quế là bà Nguyễn Thị Cháu lo việc phục vụ cơm nước hàng ngày. Tài liệu, truyền đơn in xong, ông Nguyễn Lĩnh Khôi giao cho ông Nguyễn Lĩnh Quế cất dấu trong chiếc Tráp gỗ. Khi còn đi học ông được cha mẹ sắm cho chiếc Tráp gỗ để đựng sách và những đồ dùng cá nhân. Nay ông đã đưa chiếc Tráp gỗ này ra để cất dấu tài liệu, truyền đơn của Đảng. Sau đó, ông Nguyễn Lĩnh Quế và vợ làm nhiệm vụ chuyển tài liệu, truyền đơn đến các Làng Hữu Biệt (Nam Giang), Hạ Khê, Phúc Long (Hương Cải), Yên Xá, Xuân Yên (Hưng Đông)…Cả hai ông bà đã tham gia tích cực, làm công tác tuyên truyền, đưa chuyển tài liệu, truyền đơn, vừa nấu cơm nước phục vụ tổ ấn loát. Chiếc bát, đĩa sứ này Bà Nguyễn Thị Cháu dùng đựng thức ăn cho các đồng chí cán bộ Đảng.

Sau cuộc biểu tình ngày 12/9/1930, Chi bộ Đà Giang phân công nhau đi về các thôn xóm ổn định lại tình hình, tinh thần tư tưởng của quần chúng, đồng thời tích cực in ấn truyền đơn vạch tội ác của địch, kêu gọi đảng viên, quần chúng tiếp tục đấu tranh.

Tháng 11/1930, Tri phủ Tôn Thất Đính và Bát Tạo đưa lính về đóng đồn tại đền Khoa Đà. Chúng bắt nhiều người về đồn tra tấn. Hoàng Văn Vợi đã khai ra ông Nguyễn Lĩnh Quế "đêm nào cũng đưa truyền đơn…". Được tin , biết chúng sẽ về bắt mình nên ông Lĩnh Quế bỏ trốn lên Kim Liên, Nam Đàn báo cáo với đồng chí Vương Thúc Đàm và Vương Thúc Nghiêm, nhưng hai người này đã bị địch bắt, chỉ gặp được Vương Thúc Châu. Sau đó, ông được đồng chí có bí danh là “Mân” đưa đường lên Thanh Chương gặp đồng chí Trạch (làng Xuân Tường) xếp cho chỗ ở. Đồng chí Trạch phân công ông Lĩnh Quế dạy chữ quốc ngữ ở Nguyệt Bổng gần 4 tháng. Sau đó có lệnh cấp trên gọi ông về làng Khoa Đà hoạt động được 2 tuần thì Bang tá Thấu đưa lính đến bắt ông và ông Khôi về đồn Đông Thôn (nay là chợ Hến Hưng Yên) giam, tra tấn 1 tháng, bọn chúng không khai thác được gì, lại giải ông về trại giam Phú Hưng, Cầu Đước. Ngày nào cũng có mấy tên lính và Bát Tạo đến tra tấn đánh đập rất dã man.

Tháng 4/1931, chúng đưa hai đồng chí Phan Khôi và Phạm Xuân Thâm (người xã Hương Cải) ra bắn lúc 10 giờ trưa tại Cầu Đước. Ông Lĩnh Quế bị chúng kết án một năm tù tại nhà giam Hưng Nguyên. Sau đó ông Nguyễn Lĩnh Quế được thả về và bị quản chế 1 năm không cho đi đâu và làm gì. Thời gian ở tù bị tra tấn, đánh đập nhiều, về nhà ông phát bệnh 4 tháng nên bị mất liên lạc với tổ chức.

Tháng 8/1945, ông tham gia khới nghĩa giành chính quyền, sau đó được cử làm Chủ tịch UB Kháng chiến, kiêm Phó Bí thư Hội Nông dân Cứu quốc.

Từ năm 1947-1953, xã Hưng Đông và Hưng Tây nhập lại gọi là xã Hưng Thành, ông Nguyễn Lĩnh Khôi được bầu làm Phó chủ tịch UBND xã và ông Nguyễn Lĩnh Quế được bầu vào Hội đồng Nhân dân xã phụ trách Tài chính kiêm Phó Bí thư Nông hội…

Từ năm 1953, ông tham gia dân công hỏa tuyến ở Thượng Lào, lãnh đạo đội làm đường chiến lược ở Thanh Hóa, đắp đê 42, làm đội trưởng đội sản xuất…

Năm 1968, ông nghỉ công tác xã hội.

Năm 1983 ông qua đời.

Nay gia đình còn lưu giữ được tráp gỗ, bát sứ , đĩa sứ là những hiện vật gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của ông trong những năm 1930- 1931, gia đình gửi lai cho Bảo Tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh.

                                                                                           Võ Thị Hoa – BTXVNT                                                                                                                                                        


»  Mâm đồng, đĩa sứ, khay gỗ, tráp gỗ của gia đình đồng chí Phan Đình Nhàn, Phan Đình Duyệt – Đảng viên 1930-1931 ở xã Bình Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. (29/11/2013)
»  Mâm đồng của gia đình đồng chí Lê Thúc Cơ - cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ năm 1930 ở xã Bình Lộc, huyện Lộc Hà, Tỉnh Hà Tĩnh (13/11/2013)
»  Bát yêu, đĩa sứ (18/10/2013)
»  Khay gỗ, đĩa sứ (18/10/2013)
»  Mâm gỗ, quả bầu khô, ống tre (16/10/2013)
»  Hiện vật nuôi dấu cán bộ Đảng của gia đình ông Lê Kim Du (ở Đại Thành, Yên Thành, Nghệ An) (03/05/2013)
»  Mâm đồng, Bát, Đĩa - hiện vật nuôi dưỡng cán bộ Đảng của gia đình ông Cao Văn Diện (20/03/2013)
»  Ấm sành, nậm rượu - hiện vật nuôi dấu cán bộ Đảng của bà Nguyễn Thị Tụy (Nam Thượng, Nam Đàn, Nghệ An) (27/07/2012)
»  Hiện vật đựng tài liệu Đảng của gia đình ông Hoàng Kỳ ở Kim Liên, Nam Đàn (27/07/2012)
»  Hiện vật của gia đình ông Nguyễn Văn Lương ở Nam Thượng, Nam Đàn, Nghệ An (11/06/2012)
Mô hình một góc Nhà lao Vinh
 

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BẢO TÀNG XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH

Cơ quan chủ quản: Sở Văn hóa và Thể thao Nghệ An
Đơn vị quản lý: Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Chịu trách nhiệm: Ông Cao Văn Xích - Giám đốc Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Địa chỉ: số 10, đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Điện thoại: (02383) 580 028 / Email: website @ btxvnt . org . vn
Thiết kế: Trung tâm Công nghệ thông tin Nghệ An